Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo và tờ trình về nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính. Có 52 đơn vị cấp tỉnh thuộc diện phải sắp xếp, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng có 9 tỉnh, thành gồm TP Hải Phòng, các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình.
Hiện nay, tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Hưng Yên là hơn 930 km2, dân số hơn 1,3 triệu người. Với tỉnh Thái Bình, diện tích tự nhiên của tỉnh này là hơn 1,5 nghìn km2, dân số hơn 1,8 triệu người.
Những người con nổi tiếng ở Thái Bình
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển I – kỷ nhà Lê chép một sự kiện về Ngọa Triều Hoàng đế: “Mùa đông năm Ất Tỵ – Ứng Thiên thứ 12 (1005)… vua thân chinh đi dẹp loạn… quân về đến Đằng Châu, đổi tên châu ấy làm phủ Thái Bình…”. Như vậy là địa danh Thái Bình ra đời ở Việt Nam với tên gọi một phủ cho đến đến năm 2025, kỷ niệm 135 năm thành lập tỉnh thì địa danh Thái Bình đã có 1.020 năm tuổi.
Thái Bình xưa nay vẫn được tôn vinh là quê lúa, đất nghề, đất chèo. Đặc biệt, trải hơn nghìn năm, Thái Bình vẫn từng được tôn vinh là đất học, quê hương của nhà bác học Lê Quý Đôn.

Lê Quý Đôn – nguyên là Lê Danh Phương, sinh năm 1726 trong một gia đình khoa bảng tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng là thần đồng. Người đương thời có câu “Thiên hạ vô tri vấn Bảng Đôn”, tức là thiên hạ có điều gì không biết thì cứ đến hỏi Lê Quý Đôn.
Qua đời năm 1784, nhà bác học Lê Quý Đôn đã để lại cho kho tàng văn hóa nước Nam cả một gia tài đồ sộ là sách ông viết và số sách mang về khi đi sứ. Theo thống kê, ông sáng tác khoảng 40 đầu sách các loại, bao gồm hầu hết các tri thức đương đại như lịch sử, thơ văn, triết học,… là kho tàng quý của nền học thuật nước nhà. Trong khu lưu niệm còn có thư viện để lưu trữ những cuốn sách mà ông để lại.
Khu lưu niệm nhà bác học Lê Quý Ðôn lưu giữ những chứng tích liên quan trực tiếp đến con người và cuộc đời danh nhân văn hoá kiệt xuất này. Nơi đây đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách, góp phần quảng bá hình ảnh mảnh đất và con người Thái Bình với bạn bè trong nước và quốc tế.
Thái Bình còn có Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm (1875 – 1929), sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo tại làng Ngọc Đình, tổng Hà Lý, huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên, nay là xã Văn Cẩm, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Do tư chất thông minh nên mới 8 tuổi đã nổi danh khắp vùng, được vua Tự Đức xuống chiếu “cấp cho trẻ lạ ở Hưng Yên Nguyễn Văn Kỳ tức Cẩm mỗi tháng 3 quan tiền, 1 phương gạo; áo quần mỗi thứ 2 cái, 1 năm 2 lần”. Từ đó, trong dân gian đã truyền gọi Nguyễn Văn Cẩm là Kỳ Đồng.
Năm 1887, khi Kỳ Đồng mới 13 tuổi, thực dân Pháp đưa ông sang Algerie (khi đó là thuộc địa của Pháp) để du học với ý đồ đào tạo nhân tài phục vụ lâu dài cho chính phủ bảo hộ. Sau thời gian xa xứ, từ năm 1887 – 1896, trở về nước với tấm bằng tú tài, Kỳ Đồng từ chối công việc được giao, đề nghị người Pháp cho ông mở đồn điền khai hoang ở huyện Yên Thế (Bắc Giang). Từ đây, đồn điền Chợ Kỳ, Yên Thế được thành lập, bên trong thực chất là các đồn binh. Binh sĩ được tập luyện dưới hình thức tập thể dục, vũ khí chiến đấu được sản xuất dưới danh nghĩa rèn nông cụ. Đêm ngày 22/9/1897, sau khi mật thám Pháp phát hiện người của Kỳ Đồng vận chuyển vũ khí, ông bị bí mật bắt giữ, đưa lên tàu vào Sài Gòn. Đến đầu năm 1898, thực dân Pháp đưa Kỳ Đồng đi đày ở đảo Tahiti thuộc quần đảo Polynesie – thuộc địa của Pháp ở vùng Châu Đại Dương. Ông ở đây cho đến khi qua đời vào ngày 17/7/1929.
Trong lịch sử dân tộc, có tới hàng trăm nhân vật sinh ra từ miền quê Thái Bình làm rạng danh đất nước, trong đó khá nhiều người là danh nhân đất Việt, được nhân dân ở các vùng miền đất nước lập miếu đền thờ phụng, tri ân như Trần Thủ Độ, Phạm Đôn Lễ, Lê Trọng Thứ, Hoàng Công Chất, Doãn Uẩn, Doãn Khuê, Nguyễn Quang Bích, Bùi Viện…
Những dòng họ nổi tiếng ở Hưng Yên
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã tạo nên Hưng Yên thành vùng đất thiêng, nơi phát tích của nhiều danh nhân, anh hùng dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội như: Phạm Bạch Hổ, Đỗ Thế Diên, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Như Hổ, Đoàn Thị Điểm, đại danh y Lê Hữu Trác, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, Tô Hiệu, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh,Đỗ Thế Diên…
Ở đây có nhiều dòng họ nổi tiếng vang danh khắp cả nước. Một trong số đó có thể kể đến dòng họ Đỗ.

Đỗ Nhân còn có tên là Nhạc, sinh năm Giáp Ngọ (1474), mất năm Mậu Dần (1518), quê ở làng Lại Ốc, nay thuộc xã Long Hưng, huyện Văn Giang (Hưng Yên). Cả ba cha con Đỗ Nhân đều được dân làng Lại Ốc thờ phụng. Trong đó, một người là Trạng nguyên, một người là Hoàng giáp và một người là tiến sĩ. Vị Hoàng giáp là Đỗ Nhân, “hổ phụ sinh hổ tử”, hai vị còn lại chính là 2 con trai của ông.
Theo sách Danh nhân Hưng Yên, năm 1493, vua Lê mở khoa thi, Đỗ Nhân ứng thí và đỗ Hoàng giáp. Năm ấy ông 20 tuổi. Cuộc đời ông làm quan trải qua 6 triều vua đều một lòng, một dạ trung thành.
Các con của Đỗ Nhân là Đỗ Tông, Đỗ Tấn ra ứng thí đều được đề danh trên bảng vàng đại khoa và làm quan nhà Mạc, giữ chức vụ cao trong triều.
Ngoài ra, ở xã Lạc Đạo (huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) vốn nổi tiếng bởi truyền thống hiếu học, khoa bảng. Trong khoảng 200 năm (từ năm 1547 – 1754) triều đại Lê – Mạc, xã Lạc Đạo thịnh vượng về khoa cử vì có tới 11 người đỗ đại khoa; trong đó họ Dương có Trạng nguyên Dương Phúc Tư và 8 tiến sĩ.
Nhằm vinh danh và phát huy truyền thống khoa bảng, năm 2014, họ Dương ở đây đã xây dựng nhà bia, khắc bia từng tiến sĩ, ghi rõ năm đỗ tiến sĩ ở thời vua nào, làm quan đến chức gì, công trạng ra sao. Với những giá trị về văn hóa, năm 2012, nhà thờ Trạng nguyên Dương Phúc Tư được Chủ tịch UBND tỉnh cấp Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Nguồn: https://danviet.vn/nam-trong-du-kien-sap-nhap-thai-binh-hung-yen-hoi-tu-nhung-nguoi-con-noi-tieng-den-nghin-doi-sau-van-nhac-ten-d1320982.html